Chủ đề

(Thời sự) - Chủ tịch nước Trần Đại Quang vừa kết thúc tốt đẹp chuyến thăm và làm việc tại Ấn Độ với nhiều hiệp định được ký kết trong lĩnh vực công nghệ hạt nhân, nông nghiệp, thương mại và đầu tư, đồng thời mở ra rất nhiều cơ hội và triển vọng trong mối quan hệ song phương, vốn đang cực kỳ tốt đẹp giữa hai nước.

Chủ tịch Nước Trần Đại Quang và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi. Ảnh: BNG Ấn Độ.

Từ xa xưa, Ấn Độ đã có truyền thống bang gia, hợp tác và trao đổi văn hóa với Việt Nam, đặc biệt trong thế kỷ 20 do quá khứ cùng bị thực dân đô hộ. Phát biểu diễn văn trước các chính khách, giáo sư, nhà nghiên cứu, học giả và sinh viên Ấn Độ tại Bảo tàng tưởng niệm Thủ tướng Nehru hôm 04/03/2018, Chủ tịch Trần Đại Quang đã bày tỏ sự biết ơn đối với đất nước và nhân dân Ấn Độ vì đã ủng hộ mạnh mẽ cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc của người Việt Nam. Năm 1954, Thủ tướng Nehru chính là lãnh đạo nước ngoài đầu tiên tới thăm Việt Nam theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thời điểm Hà Nội vừa sạch bóng quân Pháp.

Thủ tướng Nehru và tình bạn với Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sau này, dù trải qua biết bao thăng trầm, biến cố của lịch sử, quan hệ giữa Việt Nam và Ấn Độ vẫn là mối quan hệ không hề có khúc mắc. Năm 2016, trong chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Narendra Modi, hai nước đã nâng cấp quan hệ từ Đối tác chiến lược trờ thành Đối tác chiến lược toàn diện. Như Thủ tướng Modi đã khẳng định: “Việt Nam là ưu tiên cao nhất trong nỗ lực tăng cường quan hệ của Ấn Độ với châu Á – Thái Bình Dương”. Vì vậy, chuyến công du lần này của Chủ tịch nước Trần Đại Quang (chỉ không lâu sau lịch trình của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc) cũng không nằm ngoài sứ mệnh củng cố và phát triển niềm tin vào mối quan hệ đó, qua lời phát biểu: “Mục tiêu của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước chúng ta không có gì khác hơn là một Việt Nam giàu mạnh, phát triển bền vững, một Ấn Độ hùng cường có uy tín và vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế, cùng đóng góp tích cực vào việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực cũng như thế giới.”

Cụ thể, mối quan hệ Việt – Ấn còn rất nhiều không gian để phát triển khi cả hai nước đều sở hữu những thế mạnh và tiềm năng có thể cộng sinh, hỗ trợ cho nhau.

Ấn Độ hiện là nước đông dân thứ hai trên thế giới và được kỳ vọng sẽ vượt qua Trung Quốc vào năm 2022. Khác với một Trung Quốc phát triển quá nhanh nhưng có dấu hiệu già hóa, dân số Ấn Độ nhìn chung rất trẻ, bên cạnh đó là nguồn nhân lực được đào tạo bài bản, có kỹ năng và trình độ tiếng Anh tốt (nền tảng do người Anh để lại), khiến đất nước này có triển vọng trở thành nền kinh tế tăng trưởng hấp dẫn nhất thế giới (đạt 1,6 tỷ dân) vào giữa thế kỷ 21. Việt Nam đang rất cần mở rộng hoạt động sang một thị trường phát triển chóng mặt như Ấn Độ nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào quan hệ kinh tế với Trung Quốc. Năm ngoái, mặc dù kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã xác lập kỷ lục với giá trị 213 tỷ USD, tuy nhiên trao đổi thương mại với Ấn Độ mới chỉ ở mức 8 tỷ USD (năm 2016), còn quá nhỏ bé – theo số liệu của Ấn Độ. Vì vậy, cả hai nước cần phải làm rất nhiều việc để nâng giá trị trao đổi thương mại lên ít nhất 15 tỷ USD, theo mục tiêu vào năm 2020.

Hợp tác kinh tế và thương mại là mối quan tâm hàng đầu của hai nước

Trong bài phát biểu, Chủ tịch Trần Đại Quang nhấn mạnh mục tiêu thúc đẩy quan hệ kinh tế – thương mại: “Trước hết, chúng ta cần tăng cường hơn nữa sự kết nối về kinh tế – thương mại, coi đây là trọng tâm và động lực phát triển của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Ấn Độ. Theo đó, cần vượt lên tư duy bảo hộ, thúc đẩy tự do hóa thương mại và đầu tư, kết nối kết cấu hạ tầng, hàng hải, hàng không cả trong khuôn khổ song phương cũng như trong các kế hoạch kết nối tiểu vùng và khu vực”. Các số liệu thống kê cho biết, Ấn Độ thường xuất khẩu các sản phẩm chủ lực là máy móc thiết bị, hải sản, dược phẩm, bông, ô tô, dệt may, phụ kiện da, thức ăn gia súc, hóa chất, nhựa plastic, sợi, thép, vải, kim loại thông thường, đồ trang sức và đá quý sang Việt Nam; và ngược lại nhập khẩu điện thoại di động, phụ kiện, máy tính, thiết bị điện tử, hóa chất và cao su từ Việt Nam. Ngoài ra, cho đến nay, các doanh nghiệp Ấn Độ đã đầu tư khoảng 1 tỷ USD vào Việt Nam. Đáng chú ý, Ấn Độ ngày càng tỏ rõ mong muốn mở rộng hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí chung tại thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam trên Biển Đông (khiến Trung Quốc tức tối nhưng không thể làm gì)

Ấn Độ hiện sở hữu rất nhiều nhân tài khoa học và công nghệ mũi nhọn mà Việt Nam đang rất khao khát, mong muốn thúc đẩy hợp tác, trao đổi và chuyển giao trên các lĩnh vực như công nghệ thông tin, nông nghiệp, hạt nhân, năng lượng sạch, và cả vũ khí quân sự … Kinh nghiệm của Ấn Độ trong việc tích hợp và dung hòa thành công các công nghệ vũ khí của Nga, Mỹ, Châu Âu lẫn Israel cũng rất đáng để cho Việt Nam tham khảo và học hỏi. Trên thực tế, chính Ấn Độ đã hỗ trợ đào tạo thủy thủy tàu ngầm cho dự án Kilo-636 mà Việt Nam mua cả Nga; bên cạnh đó là cung cấp khoản tín dụng 100 triệu USD giúp Việt Nam mua tàu tuần tra hàng hải do Ấn Độ đóng. Được biết, Ấn Độ đã rất sẵn sàng cung cấp tên lửa diệt hạm Brahmos (hợp tác nghiên cứu chế tạo với Nga) thuộc loại đáng sợ nhất thế giới cho Việt Nam, nhằm giúp Việt Nam bảo vệ chủ quyền. Trong lĩnh vực năng lượng, khi dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận – hợp tác với Nga phải tạm dừng vì nhiều nguyên nhân, thì sự cởi mở và thiện chí của Ấn Độ lại mở ra nhiều triển vọng mới. Chưa kể, nước láng giềng Pakistan – thù địch với Ấn Độ, nhờ trợ giúp của Trung Quốc mà sở hữu năng lực răn đe hạt nhân, vì thế Ấn Độ cũng có thể không ngần ngại hỗ trợ Việt Nam điều tương tự.

Việt Nam rất quan tâm tới tên lửa Brahmos của Ấn Độ

Việt Nam cũng có thể nhờ Ấn Độ hậu thuẫn để sở hữu công nghệ hạt nhân

Mối quan hệ chiến lược ngày càng nồng ấm giữa Việt Nam và Ấn Độ đến vào thời điểm bước ngoặt khi châu Á đang có sự biến đổi nhanh chóng, trên đà trở thành trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá toàn cầu. Thay mặt người dân Việt Nam, Chủ tịch Trần Đại Quang mong muốn Ấn Độ, là nước lớn thứ hai ở châu Á và có tiềm năng trở thành lớn nhất, sẽ đóng vai trò quan trọng hơn trong khu vực, thể hiện qua lời phát biểu: “Sự kết nối ngày càng chặt chẽ hơn cả về kinh tế, chính trị, văn hóa giữa Châu Á – Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương sẽ tạo dựng một động lực tăng trưởng mới, thúc đẩy xu hướng đưa thế kỷ của châu Á trở thành thế kỷ của Ấn Độ Dương – Châu Á – Thái Bình Dương.”

Theo dự báo của nhiều tổ chức và chuyên gia nghiên cứu quốc tế, ASEAN cùng với Ấn Độ sẽ trở thành một trung tâm của hội nhập, đóng vai trò thiết yếu đối với sự phát triển của thế giới trong tương lai. Việt Nam cũng mong muốn Ấn Độ đóng vai trò lớn hơn đối với các cơ chế hiện có trong khu vực, bao gồm sáng kiến và liên minh ASEAN. Trước sự trỗi dậy “không hòa bình” và chi phối quá lớn của Trung Quốc, ASEAN mong muốn thiết lập mối quan hệ chặt chẽ hơn với Ấn Độ như là một bệ đỡ để chống lại (hay chí ít là cân bằng) tầm ảnh hưởng của Trung Quốc. Thay mặt ASEAN, Chủ tịch Trần Đại Quang đã nhắn gửi thông điệp đó: “ASEAN có niềm tin và kỳ vọng về sự phát triển mạnh mẽ của Ấn Độ trong tương lai. Đó là sự vươn lên không ngừng của một cường quốc có ý thức sâu sắc về trách nhiệm và nghĩa vụ của mình với cộng đồng quốc tế. Ấn Độ sẽ trở thành một cực tăng trưởng mới, một động lực quan trọng của hòa bình, thịnh vượng, liên kết và hội nhập của Ấn Độ Dương – Châu Á – Thái Bình Dương cũng như của cả thế giới.”

Trước sự bành trướng và đòi hỏi “quá đáng” của Trung Quốc đối với hơn 90% diện tích biển Đông, các nước ASEAN đang bị đặt vào thách thức và nguy cơ an ninh quá lớn. Vì thế, trong chuyến thăm lần này, Chủ tịch Quang nhấn mạnh cần phải có sự tuân thủ đầy đủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS), nhằm duy trì tự do hàng hải và không lưu trên Biển Đông, đồng thời các bên cần tôn trọng các trình tự ngoại giao và pháp lý để giải quyết tranh chấp trong hòa bình. Ở tư thế đồng thuận với Việt Nam, Ấn Độ cũng tái khẳng định quan điểm của mình về cơ chế giải quyết tranh chấp và xung đột hàng hải bằng các biện pháp hòa bình trên tinh thần tôn trọng pháp luật. Lãnh đạo cấp cao của cả hai nước đã cùng đưa ra tuyên bố chung, nhấn mạnh ủng hộ “Thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về Cách thức ứng xử của các bên [DOC] và mong chờ kết luận sớm để cho ra đời Bộ Quy tắc ứng xử [COC] trên Biển Đông”. Trong thời gian qua, hải quân hai nước thường xuyên tổ chức các chuyến thăm viếng, diễn tập cứu nạn thiên tai, tuần tra và tập trận chung trên biển Đông – những hoạt động này chắc chắn sẽ được gia tăng trong thời gian tới.

Tàu chiến Ấn Độ thăm Việt Nam ngày càng thường xuyên hơn

Có thể nói, sự hợp tác tốt đẹp về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, trao đổi văn hóa và giáo dục Việt – Ấn vẫn đang không ngừng được mở rộng, trở thành trụ cột chiến lược trong quan hệ song phương giữa hai nước. Điều này, thậm chí còn mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với lộ trình biến chuyển của Thế kỷ Châu Á (tức Thế kỷ 21) trở thành kỷ nguyên Ấn Độ – Thái Bình Dương như những gì mà Chủ tịch Trần Đại Quang đúc kết cuối bài phát biểu:

“Từ bề dày hàng nghìn năm lịch sử của mối liên hệ bền chặt về văn hóa, từ tình cảm hữu nghị chân thành của hai dân tộc, từ tầm nhìn chung hướng đến tương lai, với nỗ lực và quyết tâm mạnh mẽ của lãnh đạo và nhân dân hai nước, chúng ta có cơ sở vững chắc để tin tưởng quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Ấn Độ sẽ ngày càng phát triển, trở thành trọng tâm trong kết nối phát triển khu vực, góp phần làm nên những kỳ tích của Ấn Độ Dương – châu Á – Thái Bình Dương trong thế kỷ 21, đóng góp xứng đáng vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.”

(Theo Bút Danh)

Thích và chia sẻ bài này trên:
Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@trandaiquang.net